Nghiên cứu về chính thức hóa hộ kinh doanh tại Việt Nam

0
99

Báo cáo hoàn chỉnh: CHINH THUC HOA HO KINH DOANH_BAN IN FINAL

Báo cáo “Nghiên cứu về chính thức hóa hộ kinh doanh tại Việt Nam – Thực trạng và chính sách khuyến nghị” trình bày kết quả nghiên cứu về việc “chính thức hoá” hộ kinh doanh ở Việt Nam nhằm cung cấp những cơ sở cho việc đề xuất những khuyến nghị chính sách khuyến khích chuyển đổi hộ kinh doanh sang hoạt động theo các loại hình doanh nghiệp quy định tại Luật Doanh nghiệp nhằm hướng tới mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam có 1 triệu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.

Những phát hiện và đề xuất của Báo cáo dựa trên các nguồn cơ sở dữ liệu: (i) kết quả điều tra hộ kinh doanh, doanh nghiệp; phỏng vấn sâu chủ hộ kinh doanh, chuyên gia, cán bộ lãnh đạo cơ quan nhà nước trong khuôn khổ nghiên cứu này; (ii) dữ liệu thứ cấp thu được từ các nguồn khác, đặc biệt là báo cáo điều tra hộ kinh doanh phi nông nghiệp của Tổng cục Thống kê.

Các kết quả nghiên cứu chính gồm:

1. Chưa có định nghĩa chính thức về “chính thức hoá” hộ kinh doanh nên trong Báo cáo này “chính thức hóa” hộ kinh doanh được hiểu là việc chuyển hộ kinh doanh sang thành lập, đăng ký hoạt động theo các hình thức doanh nghiệp quy định tại Luật Doanh nghiệp (gồm công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân).

2. Việt Nam đã sớm có chủ trương chính thức hóa hộ kinh doanh. Luật Doanh nghiệp năm 1999 quy định Chính phủ hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để hộ kinh doanh cá thể quy mô lớn chuyển thành doanh nghiệp. Sau đó, Luật Doanh nghiệp 2005 và năm 2014 nâng cao tính cưỡng chế của việc chính thức hóa bằng quy định hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật này.

3. Hộ kinh doanh là hình thức tổ chức kinh doanh phổ biến ở Việt Nam, trước hết trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ. Số lượng hộ kinh doanh tăng khá nhanh, từ trên 0,33 triệu hộ kinh doanh (năm 1989) lên 1,5 triệu hộ kinh doanh (năm 1999) và 4,75 triệu hộ (năm 2015). Tuy vậy, số lượng hộ kinh doanh đăng ký thành lập doanh nghiệp rất hạn chế. Theo kết quả điều tra của Nghiên cứu này, có đến 80% số doanh nghiệp điều tra được thành lập mới hoàn toàn và chỉ có khoảng 17,8% số doanh nghiệp điều tra được hình thành (có nguồn gốc) từ các hộ kinh doanh. Cũng theo kết quả điều tra này, có đến 11,3% hộ kinh doanh điều tra thuộc diện phải đăng ký và chuyển sang hoạt động dưới các hình thức doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp (sử dụng lao động thường xuyên từ 10 lao động trở lên), nhưng chỉ có 5,63% số hộ kinh doanh này dự kiến sẽ chuyển sang các loại hình doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp.

4. Để luận giải tại sao hộ kinh doanh chưa “mặn mà” trong việc chuyển sang đăng ký thành lập doanh nghiệp, Báo cáo đã nghiên cứu, đánh giá cả khía cạnh khung pháp luật lẫn cảm nhận của hộ kinh doanh, doanh nghiệp thông qua kết quả điều tra, phỏng vấn và việc thực hiện trong thực tế.

4.1. Nhìn từ khung pháp luật hiện hành, có thể thấy rằng, mặc dù hộ kinh doanh có nhiều bất lợi về quyền kinh doanh; góp vốn thành lập, mua cổ phần, phần vốn góp trong các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần; chế độ trách nhiệm; huy động vốn,… nhưng nhìn tổng thể hộ kinh doanh đang có nhiều lợi thế hơn so với các loại hình doanh nghiệp về các khía cạnh như đối tượng thành lập; hồ sơ, thủ tục thành lập; tổ chức quản lý; chế độ kế toán, tài chính, nộp thuế; chế độ công bố thông tin;…

4.2. Kết quả điều tra, phỏng vấn cho thấy, cảm nhận của các hộ kinh doanh là hoạt động dưới các hình thức doanh nghiệp có nhiều bất lợi hơn so với hình thức hộ kinh doanh. Tỷ lệ các hộ kinh doanh và doanh nghiệp cho rằng hình thức doanh nghiệp có nhiều bất lợi hơn so với hình thức hộ kinh doanh là khá cao. Các bất lợi như “phải tuân thủ chặt chẽ hơn các quy định về kinh doanh”; “chi phí cho công tác quản lý tài chính, kế toán cao hơn”; “chịu nhiều ràng buộc bởi quy định pháp luật về tổ chức quản lý doanh nghiệp”; “phải tuân thủ chế độ hạch toán, sổ sách, chứng từ kế toán chặt chẽ và phức tạp hơn”; “phải chịu sự kiểm tra, thanh tra nhiều hơn từ các cơ quan/ cán bộ thuế, lao động, môi trường, an ninh,…”. Những bất lợi này làm cho chi phí tuân thủ pháp luật của các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt các hình thức công ty, có thể cao hơn nhiều so với hộ kinh doanh. Nếu xét theo giới tính, cảm nhận, đánh giá của các chủ hộ/ chủ doanh nghiệp là nam không có nhiều khác biệt so với cảm nhận của các chủ hộ/ chủ doanh nghiệp là nữ.

4.3. Nghiên cứu cũng cho thấy khung pháp luật liên quan chưa quy định nhất quán về đối tượng thuộc diện chuyển đổi; chưa quy định cho phép chuyển đổi trực tiếp giữa hộ kinh doanh và các loại hình doanh nghiệp làm cho thủ tục chuyển đổi phức tạp (muốn đăng ký thành lập doanh nghiệp, các hộ phải chấm dứt hoạt động); thiếu chế tài thực hiện chuyển đổi; chính sách hỗ trợ DNNVV chưa thực sự hiệu quả, chưa đủ khuyến khích hộ kinh doanh đủ điều kiện đăng ký thành lập doanh nghiệp. Ngoài ra, phần lớn hộ kinh doanh quen với tập quán kinh doanh nhỏ, lẻ, sản xuất gia truyền nên ngại thay đổi.

5. Để đạt mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam có 1 triệu doanh nghiệp, Báo cáo cho rằng cần tập trung khuyến khích các hộ kinh doanh đăng ký thành lập doanh nghiệp với các nhóm khuyến nghị chính sách sau: (i) Cần nghiên cứu xây dựng Chương trình hành động khuyến khích chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp; (ii) Cần quy định rõ hơn thời hạn, chế tài chuyển đổi hộ kinh doanh đủ điều kiện sang các hình thức doanh nghiệp; (iii) Cần ban hành cơ chế, chính sách đảm bảo các hộ kinh doanh sau khi chuyển thành doanh nghiệp duy trì hoạt động và phát triển; (iv) Đảm bảo công khai minh bạch, đặc biệt trong công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh; (v) Cần tăng cường phổ biến, tuyên truyền về những lợi thế, những cơ hội phát triển sản xuất – kinh doanh khi đăng ký thành lập dưới các hình thức doanh nghiệp; và (vi) Tiếp tục đơn giản hóa thủ tục thành lập, nộp thuế, kế toán và thủ tục hành chính khác để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp chính thức. 6. Do không có sự khác biệt lớn trong hoạt động của hộ kinh doanh/ doanh nghiệp do nữ giới là chủ so với nam giới cũng như những cảm nhận, đánh giá của họ về lợi thế và bất lợi thế của doanh nghiệp so với hộ kinh doanh, nên Báo cáo này không đưa ra những đề xuất, khuyến nghị chính sách riêng cho hộ kinh doanh/ doanh nghiệp do nữ giới làm chủ.

 

SHARE